buy custom essays onlinebuy custom essays online

Cấu trúc vật lý của HDD (P2)
Parajumpers sale www.airbrushhenk.nl Parajumpers sale http://www.unifem.ch canada goose sale Canada Goose jas http://www.canadagooseoutlets.be https://www.gasinc.nl
Home » Kiến thức » Cấu trúc vật lý của HDD (P2)

Cấu trúc vật lý của HDD (P2)

VI / Các thông số về thời gian

  • Thời gian tìm kiếm trung bình ( Average Seek Time )

 – Là khoảng thời gian trung bình (tính bằng  mili giây : ms) mà đầu đọc có thể di chuyển từ một cylinder nàyđến một cylinder khác ngẫu nhiên (ở vị trí xa chúng). Thời gian tìm kiếm trung bình được cung cấp bởi nhà sản xuất khi họ tiến hành hàng loạt các việc thử việc đọc/ghi ở các vị trí khác nhau rồi chia cho số lần thực hiện để có kết quả thông số cuối cùng.

 – Thông số này càng thấp càng tốt.

  • Thời gian truy cập ngẫu nhiên ( Random Access Time )

 – Là khoảng thời gian trung bình để đĩa cứng tìm kiếm một dữ liệu ngẫu nhiên. Tính bằng miligiây (ms). Đây là tham số quan trọng do chúng ảnh hưởng đến hiệu năng làm việc của hệ thống, do đó người sử dụng nên quan tâm đến chúng khi lựa chọn giữa các ổ đĩacứng.

 – Thông số này càng thấp càng tốt.

  •  Thời gian làm việc tin cậy ( Mean Time Between Failures )

 –  Được tính theo giờ (hay có thể hiểu một cách đơn thuần là tuổi thọ của ổ đĩa cứng). Đây là khoảng thời gian mà nhà sản xuất dự tính ổ đĩa cứng hoạt động ổn định nhất, sau thời gian này ổ đĩa cứng có thể sẽ xuất hiện lỗi (và không đảm bảo độ tin cậy).

 – Một số nhà sản xuất công bố ổ đĩa cứng của họ hoạt động với tốc độ 10.000 rpm với tham số : MTBF lên tới 1 triệu giờ, hoặc với ổ đĩa cứng hoạtđộng ở tốc độ 15.000 rpm có giá trị MTBF đến 1,4 triệu giờ thì những thông số này chỉ là kết quả của các tính toán trên lý thuyết.

  • Bộ nhớ  đệm ( Cache )

 – Bộ nhớ đệm (cache hoặc buffer) trong ổ đĩa cứng cũng giống như RAM  của máy tính, chúng có nhiệm vụ lưu tạm dữ liệu trong quá trình làm việc của ổ đĩa cứng.

 – Độ lớn của bộ nhớ đệm có ảnh hưởng đáng kể tới hiệu suất hoạt động của ổ đĩa cứng bởi việc đọc/ghi không xảy ra tức thời (do phụ thuộc vào sự dichuyển của đầu đọc/ghi, dữ liệu được truyền tới hoặc đi) sẽ được đặt tạm trong bộ nhớ đệm.

 – Đơn vị thường bính bằng KB hoặc MB.

 – Trong thời điểm năm 2007, dung lượng bộ nhớ đệm thường là 2 hoặc 8MB cho các loại ổ đĩa cứng dung lượng đến khoảng 160 GB, với các ổ đĩa cứngdụng lượng lớn hơn chúng thường sử dụng bộ nhớ đệm đến 16 MB hoặc caohơn.

 – Bộ nhớ đệm càng lớn thì càng tốt, nhưng hiệu năng chung của ổ đĩa cứng sẽ chững lại ở một giá trị bộ nhớ đệm nhất định mà từ đó bộ nhớ đệm có thể tăng lên nhưng hiệu năng không tăng đáng kể. Hệ điều hành cũng có thể lấy một phần bộ nhớ của hệ thống ( RAM )  để tạo ra một bộ nhớ đệm lưu trữ  dữ liệu được lấy từ ổ đĩa cứng nhằm tối ưu việc xử lýđối với các dữ  liệu thường xuyên phải truy cập, đây chỉ là một cách dùng riêng của hệ điều hành mà chúng không ảnh hưởng đến cách hoạt động hoặc hiệu suất vốn có của mỗi loại ổ đĩa cứng. Có rất nhiều phần mềm cho phép tinh chỉnh các thông số này của hệ điều hành tuỳ thuộc vào sự dư thừaRAM trên hệ thống.

  • Tốc độ truyền dữ liệu

 – Tốc độ của các chuẩn giao tiếp không có nghĩa là ổ đĩa cứng có thể đáp ứng đúng theo tốc độ của nó, đa phần tốc độ truyền dữ  liệu trên các chuẩn giao tiếp thấp hơn so với thiết kế vì  gặp các rào cản trong vấn đề công nghệ chế tạo.

 –  Các thông số ảnh hưởng đến tốc độ truyền dữ liệu của ổ đĩa cứng.

  1. Tốc độ quay của đĩa từ
  2. Số lượng đĩa từ trong ổ đĩa cứng : bởi càng nhiều đĩa từ thì số lượng đầuđọc càng lớn, khả năng đọc/ghi  đồng thời của các đầu từ tại các mặt đĩa càng nhiều thì lượng dữ liệu đọc/ghi càng lớn hơn
  3. Công nghệ chế tạo : Mật độ sít chặt của các track và công nghệ ghi dữ liệu trên bề mặt đĩa (phương từ  song song hoặc vuông góc với bề mặt đĩa)  dẫnđến tốc độ đọc/ghi cao hơn
  4. Dung lượng bộ nhớ đệm : Ảnh hưởng đến tốc độ truyền dữ liệu tức thời trong một thời điểm
  • Điện năng sử dụng

 – Đa số các ổ đĩa cứng của máy tính cá nhân sử dụng hai loại điện áp nguồn : 5 Vdc và 12 Vdc.  Các ổ đĩa cứng cho máy tính xách tay có thể sử dụng chỉ một loại điện áp nguồn 5 Vdc. Các ổ đĩa cứnggắn trong các thiết bị số cầm tay  khác có thể sử  dụng các nguồn có mức điện áp   thấp hơn với công suất thấp.

 – Ổ đĩa cứng thường tiêu thụ điện năng lớn nhất tại thời điểm khởi động của hệ thống (hoặc thời điểm đĩa cứng bắt đầu hoạt động trở lại sau khi tạm nghỉ đểt iết kiệm điện năng ) bởi sự khởi động của động cơ đồng trục quay các đĩa từ, cũng giống như động cơ điện thông thường, dòng điện tiêu thụ đỉnh cực đại của giai đoạn này có thể gấp 3 lần công suấttiêu thụ bình thường.

 –  Ổ cứng thông thường lấy điện trực tiếp từ  bộ nguồn của máy tính ( PSU ), với các ổ đĩa cứng ngoài có thể sử dụng các bộ cung cấp nguồn riêng kèm theo hoặc chúng cóthể dùng nguồn điện  cung cấp qua các cổng giao tiếp USB.

  • Độ ồn

  – Độ ồn của ổ đĩa cứng là thông số được tính bằng dB, chúng được đo khi ổ đĩa cứng đang làm việc bình thường.

 – Ổ đĩa cứng với các đặc trưng hoạt động là các chuyển động cơ khí của các đĩa từ và cần di chuyển đầu đọc, do đó chúng không tránh khỏi phát tiếng ồn. Ổ  đĩa cứng thường có độ ồn thấp  nên người sử dụng có thể không cần quan tâm đếnthông số này.

 –  Những tiếng “lắc tắc” nhỏ phát ra trong quá trình làm việc của ổ cứng mộtcách không đều đặn được sinh ra bởi cần đỡ đầu đọc/ghi di chuyển và dừng đột ngột tại các vị trí cần định vị để làm việc. Âm thanh này có thể giúp người sửdụng biết được trạng thái làm việc của ổ đĩa cứng mà không cần quan sát đèn trạng thái HDD trên Case.

  • Chu trình di chuyển

 – Chu trình di chuyển của cần đọc/ghi (Load/Unload cycle ) được tính bằng số lần chúng khởi động từ  vị trí an toàn đến vùng làm việc của bề mặt đĩa cứngvà ngược lại. Thông số này chỉ một số hữu hạn những lần di chuyển mà có thể sau số lần đó ổ đĩa cứng có thể gặp lỗi hoặc hư hỏng.

 – Sau mỗi phiên làm việc (tắt máy), các đầu từ được di chuyển đến một vị trí an toàn nằm ngoài các đĩa từ  nhằm tránh sự va chạm có thể gây xước bề mặt lớp từ tính, một số ổ đĩa có thiết kế cần di chuyển đầu đọc tự  động di chuyển về vị trí an toàn sau khi ngừng cấp điện  đột ngột.

 – Nhiều người sử dụng có thói quen ngắt điện trong một phiên làm việc  (bởi không có sựtắt máy chính thống) rồi tháo ổ đĩa cứng cho các công việc khác, quá trình dichuyển có thể gây va chạm và làm xuất hiện các khối hư hỏng (Bad Block)

 – Chu trình di chuyển là một thông số lớn hơn số lần khởi động máy tính (hoặc các thiết bị sử  dụng ổ đĩa cứng) bởi trong một phiên làm việc, ổ đĩa cứng có thể được chuyển sang chế độ tạm nghỉ (Stand by) để tiết kiệm điện năng  nhiềulần.

  • Khả năng chịu sốc ( Shock – half sine wave )

 -Sốc (hình thức rung động theonửa chu kỳ sóng, thường được hiểu là việc giao động từ một vị trí cân bằng đến một giá trị cực đại , sau đó lại trở lại vị trí ban đầu) nói đến khả năng chịu đựng sốc của ổ đĩa cứng khi làm việc.

 – Với các ổ cứng cho máy tính xách tay hoặc các thiết bị số hỗ trợ cá nhân hay các ổ đĩa cứng ngoài thì thông số này càng cao càng tốt, với các ổđĩa cứng gắn cho máy tính cá nhân để bàn thì thông số này ít được coi trọng khi so sánh lựa chọn giữa các loại ổ cứng bởi chúng đã được gắn cố định nên hiếm khi xảy ra sốc.

  • Nhiệt độ và sự thích nghi

 – Tất cả các thiết bị dựa trên hoạt động cơ khí đều có thể bị thay đổi thông số nếu nhiệt độ của chúng tăng lên đến một mức giới hạn nào đó (sự  giãn nở theo nhiệt độ luôn là một đặc tính của kim loại), do đó cũng như  nhiều thiết bị khác, nhiệt độ là một yếu tố ảnh hưởng đến quá trình làm việc của ổ đĩa cứng nhất là bên trong nó các chuyển động cơ khí cần tuyệt đối chính xác.

 – Nhiệt độ làm việc của ổ đĩa cứng thường là từ  0 cho đến 40 độ C, điều này thường phù hợp với nhiều môi trường khác nhau, tuy nhiên không chỉ có vậy : Độ ẩm là yếu tố liên quan và kết hợp với môi trường tạo thành một sự  phá hoại ổ đĩa cứng.

 – Ổ cứng thường có các lỗ (chứa bộ lọc không khí) để cân bằng áp suất với bên ngoài, do đó nếu như  không khí trong môi trường chứa nhiều hơi nước, sự ngưng tụ hơi nước thành các giọt hoặc đóng băng ở đâu đó bên trong ổ đĩa cứngcó thể làm hư hỏng ổ đĩa cứng , nếu ta hình dung được tốc độ quay của nó lớn thế nào và khoảng cách giữa đầu từ với bề mặt làm việc của đĩa từ nhỏ đến đâu.

 –   Chính vì vậy trước khi đưa một ổ đĩa cứng vào làm việc lần đầu tiên (tháo bỏ vỏ nhựa bọc kín nó khi sản xuất) trong thiết bị hoặc ổ đĩa cứng đã sử  dụngđược đưa đến từ một môi trường khác đến một nơi làm việc mới (có nhiệt độ môi trường cao hơn), nên đặt nó vào khoang chứa trong một số thời gian nhất định trước khi kết nối các dây cấp nguồn và cáp dữ liệu để chúng làm việc.

 – Thời gian thích nghi đủ lớn để để đảm bảo cho :

  1. Các giọt nước bị bay hơi hoặc các cụm băng tuyết biến thành hơi nước vàcân bằng với môi trường bên ngoài
  2. Đảm bảo sự  đồng đều về môi trường bên trong và bên ngoài của ổ đĩa cứng, tránh sự biến đổi (do nhiệt độ thay đổi đột ngột) với các thiết bị cơ khí bên trong khi nhiệt độ của ổ đĩa cứng tăng lên sau một thời gian hoạtđộng.

VI / Các thông số về sản phẩm

  • Model

 – Ký hiệu về kiểu sản phẩm của ổ đĩa cứng, model có thể được sử dụng chung cho một lô sản phẩm cùng loại có các đặc tính và thông số giống như nhau. Thông thường mỗi hãng có một cách ký hiệu riêng về thông số model để có thể giải thích sơ qua về một số thông số trên ổ đĩa cứng đó

  • Serial Number

 – Mã số sản phẩm, mỗi ổ đĩa cứng có một số hiệu này riêng.Thông số này thường chứa đựng thông tin đã được quy ước riêng của hãng sản xuất về thời gian sản xuất hoặc đơn thuần chỉ là thứ tự  sản phẩm khi đượ csản xuất

  • Firmware revision

 – Thông số về phiên bản Firmware đang sử dụng hiện thời của ổ đĩa cứng. Thông số này có thể thay đổi nếu người sử dụng nâng cấp các phiên bản Firmware của ổ đĩa cứng (nhưng việc nâng cấp này thường rất hiếmkhi xảy ra).

 

 

VN:F [1.9.17_1161]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
VN:F [1.9.17_1161]
Rating: 0 (from 0 votes)
Post a Comment 

You must be logged in to post a comment.