buy custom essays onlinebuy custom essays online

TCP/IP cơ bản - Phần 2, giao thức TCP/IP - Phần 2
Parajumpers sale www.airbrushhenk.nl Parajumpers sale http://www.unifem.ch canada goose sale Canada Goose jas http://www.canadagooseoutlets.be https://www.gasinc.nl
Home » Hệ thống » LAN » TCP/IP căn bản – Phần 2

TCP/IP căn bản – Phần 2

V. Default Gateway:
– Khi 1 trạm trong TCP/IP cần truyền thông tin với 1 Trạm trên Mạng khác thì nó phải thông qua 1 Router. Router được gắn nhiều Interface (vd Card Mạng) kết nối đến các Mạng riêng biệt, Routing là quá trình nhận những gói IP tại 1 Interface và gởi những gói này ra 1 Interface khác hướng về 1 đích cuối cùng. Với 1 host được cấp trên Mạng TCP/IP thì Default Gateway là địa chỉ của Router, nằm trong 1 phạm vi Broadcast, nó được cấu hình để đưa những luồng IP đến Mạng khác.
– Khi 1 máy tính cố gắng truyền đạt thông tin đến 1 trạm khác trên Mạng IP, máy tính sẽ dùng SUBNET MASK để xác định Trạm đích là Cục Bộ (Local) hay ở Xa (Remote). Nếu đích là 1 trạm trên 1 phân đoạn Mạng Cục Bộ, máy tính sẽ đơn giản gởi 1 gói tin đến Mạng Cục Bộ bằng cách truyền cho tất cả (Broadcast). Nếu đích là 1 Trạm ở Xa, máy tính sẽ đưa gói tin đến Default Gateway đã được xác định trong TCP/IP Properties. Router được ghi rõ tại địa chỉ Default Gateway sau đó sẽ chịu trách nhiệm đưa gói tin đến Mạng 1 cách chính xác.

VI. Chia Subnet:
– Những Subnet Mask được sử dụng bởi nhiều host để xác định đâu là phần chia của 1 địa chỉ IP được xem như là Net ID của địa chỉ đó.Lớp A, B và C sử dụng Subnet Mask mặc định được che lần lượt là 8, 16, 24bit tương đương với những địa chỉ 32bit. 1 Mạng cục bộ được định rõ bởi 1 Subnet Mask hay còn gọi là 1 Subnet.
– Chia subnet là phương pháp logic chia 1 địa chỉ mạng bằng cách tăng bit 1 sử dụng trong Subnet Mask của 1 Mạng. Phần mở rộng này cho phép bạn chia nhiều Subnet bên trong Mạng ban đầu.

+ 255.255.0.0 là Subnet Mask mặc định được sử dụng cho những host bên trong lớp B , ví dụ như 131.107.0.0, thì 2 địa chỉ 131.107.1.11 và 131.107.2.11 là giống Subnet. Và những host trong Net này liên lạc với nhau bằng cách gởi gói tin Broadcast. Nhưng khi Subnet Mask được tăng thêm thành 255.255.255.0 thì rõ ràng 2 địa chỉ 131.107.1.11 và 131.107.2.11 là khác Net. Thì những host này muốn liên lạc với nhau thì phải gởi 1 gói tin IP đến Default Gateway, cái mà nó chịu trách nhiệm routing những gói dữ liệu đến Subnet Đích.

+ Trong khi ban đầu địa chỉ lớp B khi chưa chia Subnet có 65.534 host thì Subnet Mask mới được cấu hình như hình bên dưới cho phép bạn chia thành 256 Subnet với 254 host trên 1 subnet.

+ Ưu điểm của việc chia Subnet là khi chia xong những phân đoạn con có thể trải rộng trên nhiều phân đoạn vật lý (vd mạng có thể gồm 2 phân đoạn là Ethernet và Token Ring). Tuy nhiên ưu điểm chính là giảm lưu lượng mạng vì khi chia Subnet thì lưu lượng các gói tin Broadcast không làm ảnh hưởng đến toàn mạng do Router giữa các mạng sẽ chặn các gói tin Broadcast.

– Xác định Tổng số Host trên 1 Mạng bằng cách ta lấy 2 lũy thừa số bit làm Host ID sau đó trừ cho 2.

Vd: 192.168.1.0 thuộc lớp C nên mặc định sẽ có 24bit làm Net ID (192.168.1.0/24) và 8bit làm Host ID. Vậy Tổng số Host : 2 lũy thừa 8 –2 = 254 Host

– Xác định Tổng số Subnet bằng cách ta lấy 2 lũy thừa số bit mở rộng thêm vào Net ID.

Vd : 172.16.0.0 . Thuộc lớp B nên có 16bit làm Net ID(172.16.0.0/16) và 16bit làm Host ID. Do Net ID chưa mở rộng bit nào nên số bit mở rộng = 0 , vậy Tổng số Subnet = 2 lũy thừa 0 = 1 Subnet
Vậy nếu 172.16.0.0 viết dưới dạng 172.16.0.0/20. Vậy có nghĩa số bit làm Host ID là 12 và số bit mở rộng thêm vào Net ID là 4.
=> Tổng Số Host : 2 lũy thừa 12 –2 = 4094 Hosts
=> Tổng Số Subnet : 2 lũy thừa 4 = 16 Subnets

– Xác định số Host trên mỗi Subnet: Tính tổng số Host trên 1 Subnet giống như tính tổng số Host trên 1 Mạng. Khi 1 địa chỉ Mạng đã được chia Subnet. Thì tổng số Host trên mỗi Subnet sẽ là 2 lũy thừa x -2 với x là số bit làm Host ID.

– Ước lượng phạm vi địa chỉ Subnet: Bằng cách sử dụng Kí Hiệu Thập Phân Dấu Chấm , ta có thể ước lượng được phạm vi của những địa chỉ IP trên mỗi Subnet đơn giản bằng cách ta lấy 256 trừ cho giá trị bộ 8 thích hợp trong Subnet Mask.

Vd1:  1 Net thuộc lớp C có địa chỉ 192.168.5.0 với Subnet Mask là 255.255.255.192. Ta lấy 256-192 = 64, Vậy kết quả mỗi phạm vị địa chỉ Subnet của Mạng được nhóm trong khoảng 64: 192.168.5.0 – 192.168.5.63, 192.168.5.64 – 192.167.5.127 , .v.v…

Vd2: 1 Net thuộc lớp B có địa chỉ 172.16.0.0 với Subnet Mask là 255.255.255.240. Ta lấy 256-240 = 16. Bởi vậy, mỗi phạm vi địa chỉ Subnet được nhóm 16 ở vị trí thứ 3 và thích hợp bộ 8. Nhưng trái lại vị trí thứ 4 của bộ 8 có phạm vi từ 0-255: 172.16.0.0 – 172.16.15.255, 172.16.16.0 – 172.16.31.255, …
– Lưu ý rằng có 2 địa chỉ không được dùng để cấp cho Host là địa chỉ mạng (tất cả các bit trong phần Host ID đều là 0) và địa chỉ Broadcast (tất cả các bit trong phần Host ID đều là 1)

VII. Supernetting:
– Để ngăn sự cạn dần các Net ID của lớp A,B. Các nhà điều hành Internet đã sắp đặt 1 sơ đồ gọi là Supernetting. Supernetting sẽ cho phép nhiều Net gom thành 1 Net. Supernetting đưa ra nhiều thuận lợi hiệu quả cho việc đặt địa chỉ cho các Net.

– Ví dụ , giả sử 1 tổ chức cần cung cấp khoảng 2000 Trạm. Con số này là quá lớn đối với 1 lớp C (chỉ có thể cấp cho 254 trạm). Tuy nhiên 1 Net thuộc lớp B có thể cấp tới 16384 Net với 65534 Trạm trên mỗi Net và con số này cũng sẽ nhanh chóng giảm bớt. Bởi vậy nó ko thiết thực để 1 ISP (Internet Service Provider) cấp 1 Net lớp B vì nhu cầu tổ chức kia chỉ chiếm 3% trong tổng số IP của 1 Net trong lớp B , có nghĩa là lãng phí mất 63534 địa chỉ. Bằng cách sử dụng Supernetting, 1 ISP có thể cấp 1 khối những địa chỉ lớp C (1 Net có 254 Hosts) mà nó được xem như 1 Mạng độc lập ở đâu đó giữa lớp B và lớp C. Trong ví dụ này, 1 khối gồm 8 Net thuộc lớp C có thể đáp ứng nhu cầu tổ chức kia bằng cách cấp 2032 host.

– Supernetting khác với Chia Subnet ở chỗ là Supernetting mượn những Bit ở Net ID đem qua làm Host ID. Ví dụ, giả sử 1 ISP đã cấp cho bạn 1 khối gồm 8 Net lớp C từ 207.46.168.0 dến 207.46.175.0. Gán 1 Subnet Mask là /21 (mặc định là /24) đến các Router tại ISP và đến tất cả các host nằm trong tổ chức của bạn, kết quả là tất cả các máy đều thấy nhau như là 1 Net bởi vì nhờ vào Net ID bị rút ngắn phát sinh từ subnet mask là /24, phần Net ID của toàn bộ 8 địa chỉ này bây giờ được nhìn thấy như là duy nhất.

***Hình bên dưới sẽ minh họa cho phần này:

VIII. CIDR (Classless Inter-Domain Routing – Định Tuyến Liên Vùng Không Phân Lớp):
– CIDR là 1 phương pháp hiệu quả để tính toán các supernet bên trong những bảng Định Tuyến. Nếu không dùng CIDR, những bảng Định Tuyến sẽ ghi vào 1 mục riêng để xử lý mạng nguyên bản trong supernet. CIDR cho phép toàn bộ supernet được xử lý chỉ bằng 1 mục duy nhất. Hình bên dưới sẽ cho ta thấy rõ điều này:

– Trái với phương pháp phân lớp. CIDR sử dụng Kí Hiệu Nhị Phân nghĩa là tất cả địa chỉ IP và Subnet Mask được chuyển đổi thành 0 và 1 tạo nên 32 giá trị thay vì 4 giá trị như ban đầu (vd 172.16.2.2->10101100 00010000 00000100 00000010). Cấu trúc này cho kích thước mạng linh hoạt hơn và tối ưu việc gán địa chỉ IP.

VD: 10.217.123.7 chuyển sang nhị phân ta được 00001010 11011001 01111011 00000111. Làm tương tự với Subnet Mask chẳng hạn là 255.255.240.0 ta được 11111111 11111111 11110000 00000000. Sau đó ta sẽ AND 2 giá trị thập phân vừa chuyển để tính phần Net ID. Vậy ta được 00001010 11011001 01110000 00000000. Sau đó chuyển sang hệ Thập Phân ta được 10.217.112.0. Ta cộng tất cả các bit1 lại , cuối cùng ta được 10.217.112.0/20

– Phương pháp CIDR luôn cần cả địa chỉ IP và Subnet Mask để xác định được 1 địa chỉ bất kì cùng Net hay khác Net.

IX. Variable-Length Subnet Masks (Subnet Mask có chiều dài thay đổi):
– Theo cách truyền thống thì 1 Subnet Mask đơn được chia sẻ qua mỗi host và router trong 1 tổ chức. Khi 1 Subnet Mask đơn được sử dụng khắp toàn bộ mạng, mạng có thể bị hỏng bên trong những subnet, vì những subnet này có cùng số host bởi vì nó dùng Subnet Mask giống nhau. Điều này là ko hiệu quả.
– Tuy nhiên, với Variable-Length Subnet Masks (VLSMs) thì các router trong 1 tổ chức có thể quản lý những Subnet Mask khác nhau. Thông thường nhất, VLSMs được dùng để cho phép tự các subnets chia thành subnet nhỏ hơn, hay nói cách khác, VLSMs còn được gọi là “Chia subnet trong 1 subnet lớn hơn” để tận dụng tối đa địa chỉ .

***Để hiểu rõ vấn đề này, ta sẽ làm 1 ví dụ:
Giả sử 1 công ty có 3 văn phòng A(50 host), B(27 host), C(12 host) và D(12 host) như hình bên dưới. Làm thế nào để tận dụng tối đa không gian địa chỉ

Theo đề bài thì 1 địa chỉ mạng lớp C – 192.168.100.0/24 phù hợp được cấp. Ta sẽ tiến hành mở rộng Net ID bằng cách lấy số bit Host ID đưa qua Net ID.
Các bước làm như sau:
B1: Xác định bao nhiêu bit Host ID sẽ cần để đáp ứng Net lớn nhất
B2: Lấy 1 subnet để cấp cho Net lớn nhất
B3: Chọn Net lớn kế tiếp để làm việc
B4: Chọn Net lớn thứ 3 để làm việc

Ta bắt đầu tiến hành làm B1 :
+ Ta nhận thấy văn phòng A là Net lớn nhất với 50 host. Do đó, bạn cần biết bao nhiêu bit Host ID sẽ cần:
Nếu 2 lũy thừa H –2 = Số host hợp lệ trên mỗi subnet
Sau đó, 2 lũy thừa H –2 >= 50
Do đó H = 6 (6 là giá trị nhỏ nhất hợp lệ)
+ Bạn cần 6 bit làm Host để đáp ứng yêu cầu của văn phòng A
+ Nếu bạn cần 6 bit Host và bạn đã bắt đầu với 8 bit Net, thì 8-6 = 2 bit Net để tạo ra các subnet:
Bắt đầu với: NNNNNNNN (đây là 8 bit trong bộ 8 thứ 4)
Và bây giờ : NNHHHHHH
Ta tiến hành B2:
+ Ta có 2 bit Net để làm việc vậy ta được 2 lũy thừa 2 = 4 Subnets :
NN = 00HHHHHH (6 bit H bạn cần cho văn phòng A)
01HHHHHH
10HHHHHH
11HHHHHH
+ Nếu bạn cộng tất cả các số 0 vào bit H bạn sẽ được số Mạng cho 4 subnet:
00000000 = .0
01000000 = .64
10000000 = .128
11000000 = .192
+ Đây là tất cả các subnet mà bạn có giống Subnet Mask
+ 2 bit lấy từ Host ID sang Net ID. Vậy Subnet Mask là:
11111111 11111111 11111111 11000000
hay 255.255.255.192
hay /26
+ Lấy 1 subnet cho văn phòng A . Ta còn lại 3 Subnet:

Ta tiến hành B3: Chọn Net lớn kế tiếp để làm việc
+ Ta thấy văn phòng B phù hợp yêu cầu với 27 host
+ Xác định số bit Host ID cần cho Net này:
2 lũy thừa H –2 >= 27
H = 5
+ Bạn cần 5 bit Host để đáp ứng yêu cầu văn phòng B
+ Bạn đã bắt đầu với mô hình 2 bit Net và 6 bit Host cho Văn Phòng A.
+ Bạn lấy 1 trong các Net /26 còn lại để chia cho Văn Phòng B
+ Với mục đích của đề bài, ta chọn mạng .128/26:
10000000
+ Nhưng bạn cần 5 bit , không phải 6 bit. Do đó bạn cần thêm 1 bit N bên trái:
10N00000
Khi đó
* 10 đại diện để mô ta cho phần nguyên thủy của chia Subnet
* N đại diện cho bit mở rộng
* 00000 đại diện cho 5 bit Host bạn cần cho văn phòng B
+ Bởi vì bạn có bit mở rộng này, bạn phải tạo ra 2 subnet nhỏ hơn từ subnet nguyên thủy:
10000000
10100000

+ Chuyển qua hệ thập phân, những subnet này là:
10000000 = .128
10100000 = .160

Bạn đã có subnet được chia trong subnet. Đây là dạng cơ bản của VLSMs
Mỗi subnet được chia trong subnet sẽ có 1 Subnet Mask mới. Nguyên thủy ban đầu Subnet Mask là /24 đã được thay đổi thành /24 bên trong Net A. Sau đó bạn lấy 1 trong những mạng Subnet /26 và tách nó ra thành 2 mạng subnet /27:
10000000 và 10000000 với 3 bit Net và 5 bit Host
Và Mask bây giờ sẽ bằng:
11111111.11111111.11111111.11100000
Hay 255.255.255.224
Hay /27

Lấy 1 trong những subnet được chia trong subnet cho văn phòng B:
10000000/27 = Network B

Sử dụng 1 subnet được chia trong subnet còn lại sử dụng về sau hay bạn có thể chia nhỏ ra tiếp nếu bạn cần.

Bạn muốn bảo đảm những địa chỉ sẽ không bị trùng lắp. Bạn trở lại với Bảng nguyên thủy ở trên:

Bây giờ bạn có thể chia mạng .128/26 thành 2 mạng /27 nhỏ hơn và cấp cho văn phòng B

Những mạng còn lại thì vẫn có sẵn để cấp cho những mạng hay subnet thêm nữa để kết quả tốt hơn.

Ta tiến hành B4: Chọn Net lớn thứ 3 để làm việc
+ Văn phòng C và D mỗi văn phòng 12 host
+ Xác định bit Host cần cho các mạng này:
2 lũy thừa H –2 >= 12
H = 4
+ Bạn cần 4 bit để đáp ứng yêu cầu của Văn Phòng C và D
+ Bạn đã bắt đầu với mô hình 2 bit Net và 6 bit Host cho Văn Phòng A
+ Bây giờ bạn phải lựa chọn để lấy Mạng nào. Bạn có thể lấy 1 mạng /26 khác hoặc cũng có thể lấy 1 mạng /27 và thử xem nó có vừa với yêu cầu ko.

+ Với mục đích của Đề Bài, ta chọn 1 mạng /27 – .160/27:
10100000 (bit 1 ở vị trí thứ 3 không còn được tô đậm như ở trên vì bây giờ nó là phần của bit Net)
+ Nhưng bạn chỉ cần 4 bit Host, không phải 5. Do đó bạn cần thêm 1 bit N bên trái:
101N0000
Khi đó
* 101 đại diện để mô ta cho phần nguyên thủy của Subnet
* N đại diện cho bit mở rộng
* 0000 đại diện cho 4 bit Host bạn cần cho văn phòng C, D
+ Bởi vì bạn có bit mở rộng này, bạn phải tạo ra 2 subnet nhỏ hơn từ subnet nguyên thủy:
10100000
10110000
+ Chuyển qua hệ thập phân, những subnet này là:
10100000 = .160
10110000 = .176

Mỗi subnet được chia trong subnet sẽ có 1 Subnet Mask mới. Mỗi subnet được chia trong subnet bây giờ đã có 4 bit Net và 4 bit Host và Mask mới của chúng là:
11111111.11111111.11111111.11110000
hay 255.255.255.240
hay /28

Lấy 1 trong những subnet được chia trong subnet mới tạo ra cho văn phòng C và D

Như vậy ta đã hoàn thành xong yêu cầu đề bài. Bạn đã thấy sức mạnh của VLSMs rồi chứ

(Nguyen The Tai – Nhatnghe)

VN:F [1.9.17_1161]
Rating: 10.0/10 (4 votes cast)
VN:F [1.9.17_1161]
Rating: 0 (from 2 votes)
TCP/IP căn bản - Phần 2, 10.0 out of 10 based on 4 ratings

Other Posts in this category

No more posts found in this category
Post a Comment 

You must be logged in to post a comment.